Ghi nhận lúc 12 giờ trưa nay ngày 22/05/2026, thị trường vàng thế giới đang chịu áp lực điều chỉnh nhẹ sau nhịp phục hồi trước đó. Giá vàng giao ngay hiện dao động quanh ngưỡng 4.526 USD/ounce, giảm hơn 17 USD, tương đương khoảng 0,37%.
Trong khi đó, chỉ số Dollar Index hiện tăng nhẹ lên mức 99,22 điểm. Đồng USD duy trì sức mạnh khiến giá vàng phần nào bị kìm hãm đà tăng. Giá bạc cũng giảm nhẹ về quanh 76,59 USD/ounce, phản ánh tâm lý thận trọng của dòng tiền trên thị trường kim loại quý.
Đáng chú ý, giá dầu WTI vẫn neo ở mức cao quanh 97 USD/thùng. Diễn biến này cho thấy áp lực lạm phát toàn cầu chưa hoàn toàn hạ nhiệt, và đây vẫn là yếu tố có thể hỗ trợ vàng trong trung hạn nếu căng thẳng địa chính trị hoặc lo ngại kinh tế tiếp tục gia tăng.
Theo quy đổi từ tỷ giá Vietcombank, giá vàng thế giới hiện tương đương khoảng 144 triệu đồng mỗi lượng, vẫn thấp hơn đáng kể so với giá vàng SJC trong nước.
Ở thị trường vàng trong nước, nhiều thương hiệu lớn sáng nay tiếp tục điều chỉnh giảm từ 200.000 đến 400.000 đồng mỗi lượng.
Cụ thể, vàng nhẫn trơn PNJ, SJC PNJ, vàng Kim Bảo PNJ, SJC Phú Quý, SJC DOJI cùng niêm yết giá mua vào ở mức 159 triệu đồng/lượng và bán ra 162 triệu đồng/lượng, giảm 400.000 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.
Tại hệ thống Mi Hồng, vàng miếng SJC và vàng nhẫn 99,9 hiện được giao dịch quanh mức 159,5 triệu đồng/lượng mua vào và 161 triệu đồng/lượng bán ra. Giá mua giảm 200.000 đồng, trong khi giá bán giảm mạnh tới 500.000 đồng mỗi lượng.
Riêng hệ thống BTMC hiện giữ giá vàng miếng VRTL, nhẫn tròn trơn và quà mừng bản vị vàng ở mức 159,4 triệu đồng/lượng mua vào và 162,4 triệu đồng/lượng bán ra, gần như đi ngang so với phiên trước.
Ở phân khúc vàng nữ trang và vàng 9999 tại các tiệm vàng địa phương, giá bán phổ biến dao động từ khoảng 14 triệu 800 nghìn đến hơn 15 triệu 250 nghìn đồng mỗi chỉ. Một số nơi ghi nhận biến động trái chiều.
Tại Phúc Thành Long Biên Hà Nội và Hải Hồng Hải Dương, giá bán hiện ở mức 15 triệu 250 nghìn đồng/chỉ, giảm nhẹ 50 nghìn đồng/chỉ. Trong khi đó, Chiến Minh Cầu Giấy Hà Nội giảm mạnh 100 nghìn đồng/chỉ.
Ở chiều ngược lại, một số khu vực như Kim Long Đồng Tháp, Quang Trung Lào Cai, Kim Chung Thanh Hóa và Kim Môn Đắk Lắk lại ghi nhận mức tăng từ 50 đến 100 nghìn đồng/chỉ, cho thấy thị trường vàng trong nước vẫn đang biến động khá phân hóa giữa các địa phương.
| TIỆM VÀNG | GIÁ MUA | GIÁ BÁN |
| PHÚC THÀNH, LONG BIÊN, HÀ NỘI | 14.950 | 15.250 |
| VĂN SANG, HẢI DƯƠNG | 14.830 | 15.020 |
| CHIẾN MINH, CẦU GIẤY, HÀ NỘI | 14.700 | 15.000 |
| HẢI HỒNG, HẢI DƯƠNG | 14.950 | 15.250 |
| HƯƠNG YẾN, HẢI DƯƠNG | 14.650 | 14.850 |
| KIM KIM THÀNH, HCM | 14.600 | 14.900 |
| KIM CHÂU, AN GIANG | 14950 | 15250 |
| KIM LONG – ĐỒNG THÁP | 14.600 | 14.950 |
| HỒNG NGA – ĐỒNG THÁP | 14.650 | 14.850 |
| MỸ NGỌC – LONG THÀNH – ĐỒNG NAI | 14.300 | 14.800 |
| QUANG TRUNG – LAO CAI | 14.600 | 14.950 |
| KIM CHUNG – THANH HÓA | 14.650 | 14.850 |
| KIM MÔN – ĐẮK LẮK | 14.650 | 14.850 |
Bảng giá tham khảo
